Cá tra là một trong những loài cá có giá trị kinh tế cao nhất ở Đông Nam Á (Campuchia, Thái Lan, Indonesia, v.v.) và là một trong những loài nuôi quan trọng ở khu vực này. Để giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về các loài cá tra cũng như đặc điểm của loài cá này, chúng tôi sẽ tổng hợp những thông tin trong bài viết dưới đây để bạn tham khảo.
Xem Nhanh
Tìm hiểu các loài cá tra
Theo nguồn tin tham khảo của những người tham gia bắn cá 8KBET, cá tra là một trong 11 loài thuộc họ cá tra (Pangasiidae) được xác định ở sông Mê Kông.
Phân loại cá tra:
- Bộ cá nheo Siluriformes
- Họ cá tra Pangasiidae
- Giống cá tra dầu Pangasianodon
- Cá tra Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage 1878).
Cá tra là loài cá truyền thống được nông dân các nước ĐBSCL nuôi trong ao hồ.
Cá tra phân bố ở đâu?
Cá tra phân bố ở lưu vực sông Mê Kông, có mặt ở cả 4 nước Lào, Campuchia, Thái Lan và Việt Nam. Ở nước ta, cách đây nhiều năm, khi chưa có nghề nuôi cá nhân tạo, cá bột, cá giống được đánh bắt trên sông Tiền, sông Hậu. Cá trưởng thành chỉ được tìm thấy trong ao hồ, ít thấy ngoài tự nhiên, do cá có tập tính di cư ngược dòng sông Mê Kông để sinh sống và tìm nơi sinh sản tự nhiên. Khảo sát chu kỳ di cư của cá tra ở Campuchia cho thấy cá di cư ngược dòng từ tháng 10 đến tháng 5 và di cư về hạ lưu từ tháng 5 đến tháng 9 hàng năm.
Ở Việt Nam, cá tra không sinh sản trong ao, cũng không có bãi đẻ tự nhiên. Cá tra sinh sản ở Campuchia và cá con theo dòng nước về Việt Nam.
Những đặc điểm của loài cá tra
Hình thái, sinh lý
Cá tra là loài cá da trơn, thân dài, lưng phẳng, màu xám đen, bụng hơi bạc, miệng rộng, đầu nhỏ vừa phải, mắt tương đối to. Vây lưng dài và có gai cứng, có răng. Vây ngực có gai, bụng có 8 tia phân nhánh, trong khi các loài khác có 6 tia (Phạm Văn Khánh, 1996).
Cá có thể sống tốt trong ao tù đọng, nhiều chất hữu cơ, lượng oxy hòa tan thấp. Có thể nuôi với mật độ cao và có thể sống ở vùng nước lợ (nồng độ muối 7-10‰).
Đặc điểm dinh dưỡng
Khi túi noãn hoàng trống, cá tra thích ăn thức ăn sống nên chúng ăn thịt lẫn nhau ngay trong bể ương và tiếp tục ăn thịt lẫn nhau nếu cá con không được cho ăn đủ. Thậm chí có thể thấy cá bắt dưới sông ăn thịt lẫn nhau ở phần đáy của cá bột. Ngoài ra, khi kiểm tra những con cá chiên bắt được dưới sông, chúng tôi còn thấy nhiều bộ phận cơ thể và mắt của các loài cá khác trong bụng chúng. Dạ dày cá có hình chữ U, đàn hồi, ruột ngắn, không xếp chồng lên nhau mà thông với mạc treo ngay dưới bàng quang và tuyến sinh dục. Dạ dày lớn và ruột ngắn là đặc điểm của loài cá ăn thịt. Ngay khi túi noãn hoàng cạn kiệt, cá có biểu hiện ăn thịt đồng loại và ăn thịt đồng loại rõ rệt nên để tránh thất thoát do ăn thịt đồng loại trong bể ấp cần nhanh chóng chuyển cá về ao ương.
Trong quá trình nuôi cá giống trong ao, chúng ăn động vật phù du nhỏ và thức ăn nhân tạo. Khi cá lớn có bản tính ăn tạp, sống ở tầng đáy và rộng rãi, chúng có xu hướng ăn thịt.
Trong điều kiện khan hiếm thức ăn, cá có thể sử dụng các loại thức ăn bắt buộc khác như rác hữu cơ, rễ cây thủy sinh, rau và thức ăn có nguồn gốc động vật như tôm, cua, côn trùng, ốc, cá. Trong ao nuôi cá tra có thể thích nghi với nhiều loại thức ăn khác nhau như: thức ăn gia dụng, thức ăn công nghiệp, cám, gạo tấm, rau muống… Thức ăn chăn nuôi giúp cá lớn nhanh hơn (Nguyễn Văn Kiệm, 2004).
Đặc điểm sinh trưởng
Theo như những người quan tâm hướng dẫn tân thủ 8KBET được biết, cá tra có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, khi còn nhỏ cá tăng trưởng nhanh về chiều dài. Cá nuôi trong ao sau 2 tháng đạt chiều dài 10-12cm (14-15 gam). Từ khoảng 2,5kg trở đi, cân nặng tăng nhanh hơn chiều dài cơ thể.
Cá nuôi trong ao có thể đạt 1 – 1,5 kg/con/năm (năm đầu tiên).
Đặc điểm sinh sản
Cá tra không sinh sản trong ao hồ mà di cư sinh sản ở các sông có điều kiện sinh thái phù hợp. Trong tự nhiên, cá trưởng thành chỉ được tìm thấy ở các con sông ở Campuchia và Thái Lan. Ở Việt Nam, cá hồng cũng không có nơi sinh sản tự nhiên. Cá đẻ ở Campuchia, cá con theo dòng nước về Việt Nam (Nguyễn Văn Kiệm, 2004).
Tuổi trưởng thành của cá hồng ở sông Mê Kông là 3 – 4 năm. Cá tra có thói quen di cư ngược dòng. Mùa sinh sản của cá trong tự nhiên bắt đầu từ ngày 5 đến tháng 7 âm lịch hàng năm. Trọng lượng cá trưởng thành lần đầu từ 2,5 – 3 kg (Nguyễn Văn Kiệm, 2004).
Cá tra không có cơ quan sinh dục phụ nên rất khó phân biệt cá đực và cá cái nếu chỉ nhìn bề ngoài. Cá đực và cá cái có thể được phân biệt ở giai đoạn II. Về sau, buồng trứng tăng kích thước, trứng có màu vàng, tinh hoàn có hình dạng phân nhánh, màu hồng chuyển dần sang màu trắng sữa. Hệ số thành thục của cá tra quan sát được trong tự nhiên dao động từ 1,76 – 12,94 (cá cái) và từ 0,83 – 2,1 (cá đực) đối với cá cỡ 8 – 11kg (Nguyễn Văn Trọng, 1989). Trong ao nuôi, hệ số thành thục của cá tra có thể đạt tới 9%.
Số lượng trứng đếm được trong buồng trứng của một con cá được gọi là khả năng sinh sản tuyệt đối, khả năng sinh sản tuyệt đối của cá tra dao động từ 200.000 đến vài triệu trứng. Sức sinh sản tương đối có thể là 135.000 trứng/kg con cái. Trứng cá muối tra có kích thước tương đối nhỏ và dính. Trứng sắp đẻ có đường kính trung bình 1mm, khi đẻ có thể có đường kính 1,5 – 1,6mm.
Trong sinh sản nhân tạo, chúng ta có thể nuôi chúng thành thục sớm và sinh sản sớm hơn ngoài tự nhiên (từ tháng 3 hàng năm), cá hồng có thể sinh sản 1-3 lần/năm.
Giá trị kinh tế của cá tra
Ảnh hưởng của dịch Covid-19 khiến xuất khẩu cá tra sang thị trường Trung Quốc giảm mạnh trong 2 tháng đầu năm nay. Trong khi đó, thị trường Mỹ sau thời gian dài trì trệ đã trở lại là thị trường số 1 của cá hồng Việt Nam.
Mô hình kỹ thuật nuôi cá tra an toàn sinh học
Để thực hiện nuôi cá hồng bền vững nhằm ổn định nguồn nguyên liệu cho người tiêu dùng và xuất khẩu, người nuôi cần thực hiện theo các bước sau:
Vị trí nuôi
Ao nuôi phải nằm trong khu vực quy hoạch vùng nuôi đã được Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt. Cần Thơ hoặc cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Ao có kết cấu đất đảm bảo giữ nước khi cần thiết, có nguồn nước tốt thích hợp cho cá phát triển, giao thông thuận tiện và có các chỉ tiêu thủy văn, thủy hóa như sau:
- PH: 7-8
- Oxy hòa tan: > 3mg/lít
- N-NH 3 : 1mg/lít
- Các chỉ tiêu về hàm lượng kim loại nặng như chì, cadmium… phải nằm trong giới hạn cho phép.
Thiết kế ao nuôi
Khu vực: tùy theo điều kiện của người nông dân. Tuy nhiên, diện tích 0,5 – 1 ha là phù hợp để nuôi cá hồng theo hình thức này. Ao phải có bờ chắc chắn để đảm bảo giữ nước trong mùa khô và chống tràn trong mùa mưa.
Cần có hồ sơ ghi lại các bước quan trọng như: địa chỉ cơ sở mua con giống, thời điểm mua con giống, thời điểm xuất giống, cơ sở bán thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y thủy sản, loại hóa chất sử dụng… để truy xuất nguồn gốc khi cần thiết.
Thời vụ thả giống
Ở vùng đồng bằng sông Cửu Long có thể nuôi quanh năm, tuy nhiên cứ 2 năm nuôi 3 vụ thì tốt hơn và giữa 2 vụ thì ao nuôi cần được thay mới kỹ lưỡng.
Kích thước của giống phải là: 10 – 15cm (khoảng 10 – 12g mỗi đầu).
Mật độ thả giống: từ 20 – 25 con/ m2 , tùy theo chất lượng nguồn nước và trình độ kỹ thuật của người nuôi.
Chăm sóc và quản lý ao nuôi
Cần có lịch cho cá ăn hàng ngày và phải tuân thủ nghiêm ngặt thời gian cho ăn khi cho cá ăn, cần quan sát hoạt động bắt mồi của cá để điều chỉnh thức ăn kịp thời.
Thức ăn, liều lượng cho cá cũng như hàm lượng dinh dưỡng trong thức ăn phải phù hợp với từng giai đoạn phát triển của cá.
Không sử dụng thực phẩm hết hạn sử dụng, thực phẩm kém chất lượng, ẩm mốc, thực phẩm chứa kháng sinh, hóa chất bị Bộ Thủy sản (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cấm.
Một cuốn nhật ký cần được lưu giữ với đầy đủ các chi tiết như: ngày, giờ cho cá ăn, lượng thức ăn, nguồn thức ăn, nguyên liệu làm thức ăn, hoá chất, thuốc trộn vào thức ăn cho cá.
Định kỳ kiểm tra các chỉ số chất lượng nước như: pH, Oxy, N-NH 3 , H 2 S, … theo dõi sức khỏe cá thông qua các hoạt động bơi lội, đánh bắt cá.
Khi cá bị bệnh phải chữa trị kịp thời như xét nghiệm mẫu cá bệnh trước khi chữa trị. Khi xử lý cá cần sử dụng đúng kỹ thuật như: dùng đúng thuốc, đúng liều lượng, đúng thời điểm… theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa. Cá chết bệnh phải được xử lý triệt để để tránh lây lan từ ao này sang ao khác. Kết quả xử lý cá chết cần ghi lại như sau: kết quả xét nghiệm, thời gian điều trị, loại thuốc điều trị và phương pháp điều trị.
Nước cần được thay hàng ngày với lượng nước thay khoảng 20% – 30% tổng lượng nước trong bể. Nước thải phải được xử lý và làm sạch trước khi thải ra môi trường. Luôn duy trì chất lượng nước tốt dựa trên các thông số thủy lý, thủy hóa phù hợp với nhu cầu sinh trưởng của cá.
Thường xuyên cập nhật thông tin từ các ban ngành liên quan như Cục Thủy sản, Trung tâm Khuyến nông về giá cả thị trường cá nuôi, dự báo môi trường nước nuôi, thời vụ nuôi thích hợp để điều chỉnh, tổ chức lịch nuôi phù hợp.
Thu hoạch
Không thu hoạch cá trong thời gian bệnh. Mẫu phải được gửi đến cơ quan chức năng để kiểm tra dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất trước khi thu hoạch.
Ngừng sử dụng thuốc chữa bệnh trước khi thu hoạch theo quy định của cơ quan có thẩm quyền. Ngừng cho cá ăn thức ăn thương mại 1 ngày và nếu sử dụng thức ăn tự chế biến thì ngừng cho cá ăn 2 ngày trước khi thu hoạch.
Trên đây là tổng hợp thông tin các loài cá tra và những kiến thức quan trọng cần biết. Hi vọng bài viết này đã mang đến cho bạn những thông tin hữu ích!